Văn minh Ấn Độ


1. Địa lư và cư dân:Ấn Độ là một bán đảo ở Nam á, từ Đông Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dăy Himalaya nổi tiếng. Ấn Độ chia làm hai miền Nam, Bắc lấy dăy núi Vinđya làm ranh giới. Miền Bắc Ấn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange). Sông Ấn chia làm 5 nhánh, nên đồng bằng lưu vực sông Ấn được gọi là vùng Pungiáp (vùng Năm sông). Tên nước Ấn Độ là gọi theo tên con sông này. Sông Hằng ở phía Đông được coi là một ḍng sông thiêng. Từ xưa nhân dân Ấn Độ thường đến khúc sông ở thành phố Varanadi (Bênarét) để cử hành lễ tắm mang tính chất tôn giáo. Cả hai ḍng sông này đă bồi đắp thành hai đồng bằng màu mỡ ở miền Bắc Ấn Độ, v́ vậy nơi đây đă trở thành cái nôi của nền văn minh của đất nước này.

Cư dân Ấn Độ, về thành phần chủng tộc, gồm hai loại chính: người Đraviđa chủ yếu cư chú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư chú ở miền Bắc. Ngoài ra c̣n có nhiều tộc khác như người Hy Lạp, người Hung Nô, người Arập... Họ dần dần đồng hóa với các thành phần cư dân khác, do đó vấn đề bộ tộc ở Ấn Độ là một vấn đề hết sức phức tạp.
Thời cổ trung đại, phạm vi địa lư của nước Ấn Độ bao gồm cả các nước Pakixtan, Bănglađét và Nêpan ngày nay.
2. Sơ lược lịch sử cổ trung đại Ấn Độ

Từ khi bước vào xă hội có nhà nước cho đến khi bị thực dân Anh chinh phục, lịch sử Ấn Độ có thể chia thành 4 thời kỳ lớn sau đây:
· Thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN

Từ khoảng đầu thiên kỷ III TCN, nhà nước Ấn Độ đă ra đời, nhưng cả giai đoạn từ đó cho đến khoảng giữa thiên kỷ II TCN, trước đây chưa được biết đến. Măi đến năm 1920 và 1921, nhờ việc phát hiện ra hai thành phố Harappa và Môhenjô Đarô cũng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dưới đất ở vùng lưu vực sông Ấn, người ta mới biết được thời kỳ lịch sử này. Những hiện vật khảo cổ học chỉ giúp người ta biết được t́nh h́nh phát triển của các ngành kinh tế và văn hóa, qua đó có thể suy ra đây là thời kỳ đă có nhà nước, chứ chưa biết được lịch sử cụ thể, v́ vậy người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ văn hóa Harappa hoặc thời kỳ văn minh lưu vực sông Ấn.
· Thời kỳ Vêđa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)

Thời kỳ này, lịch sử Ấn Độ được phản ánh trong các tập Vêđa nên gọi là thời Vêđa. Vêđa vốn là những tác phẩm văn học, gồm có 4 tập là: Rich Vêđa, Xama Vêđa, Atácva Vêđa và Yagiva Vêđa, trong đó Rich Vêđa được sáng tác vào khoảng giữa thiên kỷ II đến cuối thiên kỷ II TCN, c̣n 3 tập Vêđa khác th́ được sáng tác vào khoảng đầu thiên kỷ I TCN.
Chủ nhân của thời kỳ Vêđa là người Arya (nghĩa là "Người cao quư") mới di cư từ Trung á vào Ấn Độ. Địa bàn sinh sống của họ trong thời kỳ này chủ yếu là vùng lưu vực sông Hằng. Trong giai đoạn đầu của thời Vêđa, người Arya đang sống trong giai đoạn tan ră của xă hội nguyên thủy đến khoảng cuối thiên kỷ II TCN, họ mới tiến vào xă hội có nhà nước. Chính trong thời kỳ này, ở Ấn Độ đă xuất hiện hai vấn đề có ảnh hưởng rất quan trọng và lâu dài trong xă hội nước này, đó là chế độ đẳng cấp (varna) và đạo Bàlamôn.
· Ấn Độ từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ XII

Các quốc gia ở miền Bắc Ấn Độ và sự xâm lược của Alêchxăngđrơ Makêđônia
Bắt đầu từ thế kỷ VI TCN, Ấn Độ mới có sử sách ghi chép về t́nh h́nh chính trị của đất nước ḿnh. Lúc bấy giờ ở miền Bắc Ấn Độ có 16 nước, trong đó mạnh nhất là nước Magađa hạ lưu sông Hằng. Trong số các nước như ở Tây Bắc Ấn Độ, chỉ có nước Po là tương đối lớn. Năm 327 TCN, sau khi tiêu diệt Ba Tư, quân đội Makêđônia do Alêchxăngđrơ chỉ huy đă tấn công Ấn Độ. Quân đội của nước họ đă chiến đấu rất dũng cảm nhưng cuối cùng bị thất bại. Alêchxăngđrơ định tiến sang phía Đông tấn công nước Magađa nhưng quân sĩ đă quá mệt mỏi sau một cuộc trường trinh nhiều năm nên phải rút lui, chỉ để lại một lực lượng chiếm đóng ở hai cứ điểm đă chiếm được mà thôi.
Vương triều Môrya (321 - 187 TCN)
Ngay sau khi Alêchxăngđrơ rút lui, ở Ấn Độ đă dấy lên phong trào đấu tranh giải phóng chống lại sự chiếm đóng của quân Makêđônia. Thủ lĩnh của phong trào này là Sanđragupta, biệt hiệu là Môrya (chim công). Quân Makêđônia bị đuổi khỏi Ấn Độ, Sanđragupta làm chủ được cả vùng Pungiáp. Tiếp đó, ông tiến quân về phía Đông giành được ngôi vua ở Magađa; lập nên một triều đại mới gọi là vương triều Môrya, triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Ấn Độ cổ đại.
Đến thời Axôca (273-236 TCN), vương triều Môrya đạt đến giai đoạn cường thịnh nhất. Đạo Phật ra đời từ khoảng thế kỷ V TCN, đến thời kỳ này được phát triển nhanh chóng và trở thành quốc giáo. Sau khi Axôca chết, vương triều Môrya suy sụp nhanh chóng, nước Magađa thống nhất dần dần tan ră, đến năm 28 TCN th́ diệt vong.
Nước Cusan
Trong khi t́nh h́nh chia cắt ở Ấn Độ đang diễn ra trầm trọng th́ vào thế kỷ I, tộc Cusan (cùng một huyết thống với người Tuốc) từ Trung á tràn vào chiếm được miền Tây Bắc Ấn Độ lập thành một nước tương đối lớn. Vua nước Cusan lúc bấy giờ là Canixca (78-123) cũng là một người rất tôn sùng đạo Phật nên thời kỳ này Phật giáo cũng rất hưng thịnh. Sau khi Canixca chết, nước Cusan ngày càng suy yếu, lănh thổ chỉ c̣n lại vùng Pungiáp và tồn tại đến thế kỷ V th́ diệt vong.
Vương triều Gupta và vương triều Hacsa
Trong thế kỷ III, Ấn Độ lại bị chia cắt trầm trọng. Năm 320, vương triều Gupta được thành lập, miền Bắc và một phần miền Trung Ấn Độ tạm thời thống nhất một thời gian. Từ năm 500-528, phần lớn miền Bắc Ấn Độ bị người Eptalil xâm chiếm và thống trị, đến năm 535, triều Gupta diệt vong.
Năm 606, vua Hácsa lại dựn lên một vương triều tương đối hùng mạnh ở miền Bắc Ấn Độ. Chính trong thời kỳ này nhà sư Huyền Trang của Trung Quốc đă sang Ấn Độ để t́m kinh Phật. Năm 648, Hácsa chết, quốc gia hùng mạnh do ông dựng lên cũng tan ră.
Từ đó cho đến thế kỷ XII, Ấn Độ bị chia cắt càng trầm trọng và nhiều lần bị ngoại tộc xâm nhập. Đặc biệt từ đầu thế kỷ XI, Ấn Độ thường bị các vương triều hồi giáo ở Ápganixtan tấn công và đến năm 1200 toàn bộ miền Bắc Ấn Độ bị nhập vào ápganixtan.
· Ấn Độ từ thế kỷ XIII - XIX

Thời kỳ Xuntan Đêli (1206-1526)
Năm 1206, viên Tổng đốc của Ápganixtan ở miền Bắc Ấn Độ đă tách miền Bắc Ấn Độ thành một nước riêng tự ḿnh làm Xuntan (vua), đóng đô ở Đêli, gọi là nước Xutan Đêli (vương quốc Hồi giáo Đêli). Từ đó đến năm 1526, ở miền Bắc Ấn Độ đă thay đổi đến 5 vương triều, nhưng đều do người ngoại tộc theo Hồi giáo thành lập, đồng thời đều đóng đô ở Đêli, nên thời kỳ này gọi là thời kỳ Xuntan Đêli.
Thời kỳ Môgôn (1526-1857)
Nước Mông Cổ do thành Cát Tư Hăn thành lập năm 1206. Sau khi thành Cát Tư Hăn chết (1227), đế quốc Mông Cổ chia thành nhiều nước. Ḍng dơi của người Mông Cổ ở Trung á đều Tuốc hóa và đều theo đạo Hồi. Từ thế kỷ XIII, người Mông Cổ ở Trung á nhiều lần tấn công Ấn Độ. Năm 1526, họ chiếm được Đêli, thành lập vương triều mới gọi là vương triều Môgôn (Mông Cổ). Từ giữa thế kỷ XVIII, thực dân Anh bắt đầu chinh phục Ấn Độ, đến năm 1849, Ấn Độ hoàn toàn biến thành thuộc địa của Anh, vương triều Môgôn đến năm 1857 bị diệt vong.
II - Những thành tựu chính của văn minh Ấn Độ

1. Chữ viết

Chữ viết đầu tiên của Ấn Độ được sáng tạo từ thời văn hóa Harappa. Tại các di chỉ thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn đă phát hiện được hơn 3.000 con dấu khắc chữ đồ họa. Suốt nửa thế kỷ từ khi phát hiện lần đầu tiên vào năm 1921, nhiều tác giả của nhiều nước đă nghiên cứu cách đọc loại chữ này nhưng chưa thành công. Măi đến cách đây vài chục năm, một nhà khảo cổ học Ấn Độ là tiến sĩ S.R. Rao đă khám phá được sự bí ẩn của loại chữ này.
Theo ông Rao, đây là một loại chữ dùng h́nh vẽ để ghi âm, ghi vần. Trong số hơn 3000 con dấu ấy có 22 dấu cơ bản. Loại chữ này chủ yếu viết từ phải sang trái. Những con dấu đă phát hiện được là những con dấu dùng để đóng trên các kiện hàng để xác nhận hàng hóa và chỉ rơ xuất xứ của những hàng hóa đó.
Đến khoảng thế kỷ V TCN. ở Ấn Độ xuất hiện một loại chữ khác gọi là chữ Kharosthi. Đây là một loại chữ phỏng theo chữ viết của vùng Lưỡng Hà. Sau đó lại xuất hiện chữ Brami, một loại chữ được sử dụng rộng răi. Các văn bia của Axôca đều viết bằng loại chữ này. Trên cơ sở chữ Brami, người Ấn Độ lại đặt ra chữ Đêvanagari có cách viết đơn giản thuật tiện hơn. Đó là thứ chữ mới để viết tiếng Xanxcrit. Đến nay ở Ấn Độ và Nêpan vẫn dùng loại chữ này.
2. Văn học

Ấn Độ là một nước có nền văn học rất phát triển. Thời cổ đại văn học Ấn Độ gồm hai bộ phận quan trọng là Vêđa và sử thi.
· Vêđa

Vêđa vốn nghĩa là hiểu biết. Vêđa có 4 tập là Rích Vêđa, Xama Vêđa, Yagiua Vêđa, và Atácva Vêđa.
Ba tập Vêđa trên gồm những bài ca và những bài cầu nguyện phản ánh t́nh h́nh người Arya tràn vào Ấn Độ, t́nh h́nh tan ră của chế độ thị tộc, t́nh h́nh cư dân đấu tranh với thiên nhiên như hạn hán, lũ lụt. Trong đó, Rích Vêđa với 1028 bài thơ là tập quan trọng nhất.
C̣n Atácva Vêđa chủ yếu bao gồm các bài chú nhưng nội dung mà tập Vêđa này đề cập đến gồm các mặt như chế độ đẳng cấp, việc hành quân, chữa bệnh, đánh bạc và cả t́nh yêu nữa.
Ca ngợi thần sét inđra, Rích Vêđa viết:
Tôi muốn ca ngợi sự tích anh hùng của thần Inđra,
Những chiến công của vị thần Thiên Lôi ấy,
Ngài đă chém con ác long cho nước mưa tuôn chảy,
Và mở toang các hang động trên non cao.
Nói về uy quyền của đẳng cấp Bàlamôn khi họ làm cố vấn tôn giáo cho nhà vua, Atácva Vêđa viết:
Sắc hơn lưỡi búa,
Sáng hơn ngọn lửa,
Vang hơn tiếng sét của Inđra.
Cố vấn của người như thế chính là ta.
Trong Atácva Vêđa cũng có những bài thơ tỏ t́nh:
Như gió lay ngọn cỏ,
Anh lay chuyển ḷng em
Rồi em sẽ yêu anh
Và không rời anh nữa.
Kế tiếp theo 4 tập Vêđa và có liên quan với Vêđa c̣n có các tác phẩm Bramana (Phạn thư), Araniaca (sách rừng rậm) Ypannisát (sách nghĩa sâu) v.v... Những sách này đều viết bằng văn xuôi, nội dung bao gồm những bài cầu nguyện, thần chú, những nghi thức cúng bái, những bài thuyết pháp, những lời giải thích triết lư trong kinh Vêđa chứ về văn học th́ không có giá trị ǵ đáng kể.
· Sử thi

Ấn Độ có hai bộ sử thi rất đồ sộ là Mahabharata và Ramayan. Hai bộ sử thi này được truyền miệng từ nửa đầu thiên kỷ I TCN rồi được chép lại bằng khẩu ngữ, đến các thế kỷ đầu công nguyên th́ được dịch ra tiếng Xanxcrit.
A. Mahabharata
Mahabharata có 18 chương và 1 chương bổ sung tài liệu, gồm 220.000 câu. Đây là bộ sử thi dài nhất thế giới, so với cả hai bộ Iliat và Ôđixê của Hy Lạp cổ đại gộp lại c̣n dài hơn 8 lần. Tương truyền rằng người soạn lại bộ sử thi này là Viasa. Chủ đề của tác phẩm này là cuộc đấu tranh trong nội bộ một ḍng họ đế vương ở miền Bắc Ấn Độ. Bởi vậy tập thơ lấy tên là Mahabharata nghĩa là "Cuộc chiến tranh giữa con cháu Bharata".
Cốt chuyện như sau: Ở thành phố Haxtinapua có một ḍng họ vua chúa gọi là Curu vốn là con cháu của vua Bharata. Ḍng họ này có hai anh em là Đritarattơra và Panđu. V́ người anh bị mù nên Panđu được làm vua, Đritarattơra có 100 con trai, gọi chung là anh em Curu; c̣n Panđu có 5 con trai, gọi chung là anh em Panđu.
Sau khi Panđu chết, anh em Curu và anh em Panđu chia đôi vương quốc. Nhưng v́ muốn chiếm toàn bộ đất nước, anh em Curu đă thách anh em Pađu đánh bạc. Nhờ gian lận, anh em Curu thắng liên tiếp. Bị mất hết mọi của cải, anh em Panđu đặt phần đất nước của ḿnh vào canh bạc nhưng cũng bị thua nốt. Theo lời giao hẹn, anh em Panđu bị trục xuất và phải trốn tránh trong 13 năm, không được để phía anh em Curu phát hiện.
Hết kỳ hạn, anh em Panđu trở về yêu cầu anh em Curu trả lại đất đai cho họ, nhưng bị từ chối, do đó một cuộc chiến tranh khốc liệt giữa hai bên bùng nổ. Sau 18 ngày đánh nhau dữ dội, hàng trăm triệu người đă bị tử trận, phe Curu chỉ có 3 người sống sót, cả 100 anh em Curu đều chết. Phe Panđu tuy thắng lợi nhưng cũng chỉ c̣n lại 6 người, trong đó có 5 anh em Panđu.
Xoáy vào cốt chuyện ấy, bộ sử thi này đă miêu tả rất nhiều cảnh khác nhau với những chi tiết ly kỳ như cảnh ăn chơi xa hoa ở chốn cung đ́nh, những cuộc t́nh duyên éo le nhưng chung thủy, những cảnh sinh hoạt trong xă hội lúc bấy giờ và đậm nét nhất là cảnh chiến đấu anh dũng nhưng vô cùng thảm khốc. Hơn nữa, cùng với thời gian, những câu chuyện như vậy không ngừng được bổ sung vào làm cho tác phẩm càng thêm phong phú.
B. Ramayana
Ramayana có VII chương, trong đó chương I và chương VII về sau mới thêm vào, gồm 48000 câu. Tương truyền rằng tác giả là Vanmiki. Chủ đề của tác phẩm này là câu chuyện t́nh duyên giữa hoàng tử Rama và người vợ chung thủy Sita.
Cốt chuyện như sau: Trong thời Vêđa, vương quốc Côxala được sống trong cảnh thanh b́nh dưới sự trị v́ của vua Đaxarađa. Người con trưởng của vua là Rama, một thanh niên thông minh dũng cảm và có đạo đức được vua chọn làm thái tử nối ngôi.
Gần đó có một vương quốc khác, là Viđêha, dân chúng cũng được an cư lạc nghiệp dưới quyền thống trị của vua Gianắc. Bản thân vua cũng cầm cày cày ruộng. Một hôm nhà vua đang cày, bỗng thấy từ luống cày hiện lên một thiếu nữ xinh đẹp. Nhà vua đêm về nuôi, đặt tên là Sita và coi như con. Khi Sita đến tuổi lấy chồng, nhà vua tổ chức một cuộc thi bắn cung để kén pḥ mă. Nhiều thanh niên tham dự cuộc thi, nhưng chỉ có Rama giương nổi cây cung của nhà vua. Rama được kết hôn với công chúa Sita.
Nhưng một ái phi của vua Đaxarata v́ ghen với hoàng hậu có con trai là Rama được làm thái tử nối ngôi nên yêu cầu vua đày Rama ra khỏi đất nước 14 năm.
Rama cùng Sita đến sống ở trong rừng. Một công chúa góa chồng một hôm dạo chơi trong rừng gặp Rama rồi đêm ḷng yêu chàng. Bị từ chối quyết liệt, nàng công chúa ấy tức giận nên bảo em trai ḿnh là Ravan, vua nước Qủy ở đảo Lanca bắt cóc Sita.
Nhờ sự giúp đỡ của vua nước Vượn là Xugriva, Rama tổ chức được một đội quân gồm toàn vượn và gấu. Theo lệnh của Rama, một cái cầu được xây dựng nối liền lục địa với đảo Lanca. Ngày nay, giữa Ấn Độ và Xri Lanca có những ḥn đảo mà theo truyền thuyết của cư dân địa phương, đó chính là dấu vết của cái cầu ấy. Với đội quân vượn và gấu đó, Rama đánh bại vua nước Qủy và cứu được Sita. Thời gian đi đày cũng hết, Rama trở về đất nước của ḿnh và lên làm vua.
Chương cuối do người đời sau thêm vào kế tiếp rằng mặc dầu Sita đă thắng được cuộc thử lửa, Rama vẫn nghĩ nàng không giữ được trinh tiết với ḿnh trong thời gian ở cung điện của Ravan, nên Rama đă đày vợ vào rừng. Tại đây, Sita sinh được 2 đứa con trai và gặp Vanmiki mà về sau trở thành tác giả của tập thơ. Lớn lên hai đứa con ấy trở thành người đi hát rong và một hôm chúng đă hát cho Rama nghe bản trường ca Ramayana. Rama nhận ra con ḿnh, sai sứ giả vào rừng đón Sita về cung. Sita được minh oan nhưng vẫn đau khổ v́ đă bị chồng nghi ngờ nên biến vào ḷng đất, người mẹ trước đây đă sinh ra nàng từ luống cày. Rama tiếp tục trị v́ trong nhiều năm nữa, nhân đân được sống yên vui, nhưng bản thân ông phải sống trong cảnh buồn rầu và cô độc ".
Hai bô sử thi Mahabharata và Ramayana là những công tŕnh sáng tác tập thể của nhân dân Ấn Độ trong nhiều thế kỷ và là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ trong hai ngàn năm nay. Cho đến nay, các nhà văn nghệ sĩ Ấn Độ thuộc các ngành thơ, kịch, họa, điêu khắc.... vẫn t́m được ở trong hai tác phẩm vĩ đại ấy nhiều đề tài và cảm hứng để sáng tác.
Ngoài văn học tiếng Xanxcrít ra, c̣n có những tác phẩm viết bằng các thứ ngôn ngữ khác, trong đó trước hết cần phải kể đến những tác phẩm viết bằng tiếng Pali về chủ đề Phật giáo.
· Những tác phẩm của Caliđaxa

Caliđaxa là nhà thơ và nhà soạn kịch lớn nhất thời Gupta (thế kỷ V). Tác phẩm tiêu biểu nhất của ông là vở kịch Sơcuntla.
Vở kịch Sơcuntla vốn phỏng theo một câu chuyện dân gian chép trong sử thi Mahabharata, nhưng đă được tác giả cải biên và thêm nhiều t́nh tiết. Nội dung của vở kịch miêu tả câu chuyện t́nh duyên giữa nàng Sơcuntla và vua Đusơnta, trải qua nhiều éo le trắc trở, cuối cùng hai người được đoàn tụ và được hạnh phúc đời đời.
Tuy là một nhà soạn kịch cung đ́nh, lại chịu ảnh hưởng của đạo Bàlamôn, nhưng Caliđaxa đă thể hiện trong tác phẩm của ḿnh tư tưởng tự do, chống lại lễ giáo khắt khe, lên án bản chất giả dối, lừa gạt, không chung thủy của giai cấp thống trị và trên chừng mực nhất định đă chống quan niệm về đẳng cấp.
Sơcuntla và Caliđaxa là niềm tự hào của nhân dân Ấn Độ. Suốt 15 thế kỷ nay, Sơcuntla đă trở thành nguồn cảm hứng, nguồn đề tài của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau của Ấn Độ như kịch, điện ảnh, họa, nhạc, vũ v.v... Không những ở Ấn Độ mà đối với thế giới, tác phẩm Sơcuntla cũng có một tiếng vang rất lớn.
Gớt nhà đại văn hào Đức đă không tiếc lời ca ngợi:
"Nếu muốn có một tiếng ôm ấp được cả hoa mùa xuân và trái mùa thu,
Một tiếng làm đắm say nuôi dưỡng và thỏa măn được tâm hồn.
Nếu muốn có một tiếng bao gồm được cả trời đất,
Th́ tôi gọi: Sơcuntla.
Tiếng đó nói lên tất cả.
Ngày nay Caliđaxa được xếp vào loại các nhà văn lớn của thế giới và năm 1957 ông đă được Hội đồng ḥa b́nh thế giới tổ chức kỷ niệm.
· Các tác phẩm văn học viết bằng các phương ngữ

Từ cuối thế kỷ X về sau, ngoài văn học tiếng Xanxcrít đă xuất hiện nhiều tác phẩm văn học viết bằng các loại phương ngữ khác nhau.
Vào thế kỷ XIII, nhà thơ Tichcala đă dịch 15 chương trong bộ sử thi Mahabharata ra tiếng Têlugu, làm cho nền văn học cổ điển càng được phổ cập rộng răi.
Đến thế kỷ XVI, XVII, dưới triều Môgôn, có một số nhà thơ đă sáng tác bằng tiếng Ba Tư. Tuy nhiên phong phú nhất vẫn là nền văn học bằng tiếng Inđi và các loại ngôn ngữ địa phương khác. Thiên trường ca Ramayana do Tunxi Đát viết bằng tiếng Inđi là một tác phẩm nổi tiếng được nhân dân rất ưa thích..
Tập thơ Xuốc của nhà thơ mù Xuốc Đát viết bằng một loại phương ngữ khác trong tiếng Inđi mà chủ đề chính là chủ nghĩa anh hùng và t́nh yêu cũng là một tác phẩm có giá trị.
Những bài ca du dương, gợi cảm ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên Ấn Độ của ca sĩ kiêm nhà thơ Tanxen cũng rất nổi tiếng. Ngoài ra, trong thời kỳ này c̣n có nhiều nhà thơ khác.
Đặc trưng chung của nền thi ca giai đoạn này là dùng ngôn ngữ dân gian chứ không dùng ngôn ngữ cung đ́nh, đồng thời c̣n sử dụng nhiều chất liệu trong văn học dân gian, phản ánh được tâm tư nguyện vọng của quần chúng nên được nhân dân rất thích thú.
3. Nghệ thuật

Thời cổ chung đại, Ấn Độ đă có một nền nghệ thuật phong phú đặc sắc bao gồm nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là các ngành kiến trúc, điêu khắc. Thời Harappa, nhà cửa chỉ mới xây bằng gạch, đến thời vương triều Môrya, nghệ thuật kiến trúc đá mới bắt đầu phát triển mà các công tŕnh tiêu biểu là cung điện, chùa, tháp, trụ đá...
Axôca đă xây cho ḿnh một ṭa hoàng cung rất lộng lẫy. Cung điện chính là một ṭa nhà ba tầng và được trang sức bằng những tác phẩm điêu khắc rất đẹp.
Tháp, tiếng Xanxcrít là stupa, tiếng Pali và thupo, là công tŕnh kiến trúc dùng để bảo tồn các i vật của Phật. Trong số các tháp c̣n dữ đến ngày nay, điển h́nh nhất là tháp Xansi (Sanchi) ở Trung Ấn, xây từ thế kỷ III TCN. Tháp này xây bằng gạch, h́nh nửa quả cầu, cao hơn 16m, xung quanh có lan can và bốn cửa lớn. Lan can và cửa đều làm bằng đá và được trạm trổ rất đẹp.
Trụ đá cũng là một loại công tŕnh kiến trúc dùng để thờ Phật. Những trụ đá này trung b́nh cao 15m nặng 50 tấn, trên đó trạm một hoặc nhiều con sư tử và các h́nh trang trí khác. Các sắc lệnh của Axôca thường được khắc trên các trụ đá đó. Trong số các trụ đá c̣n lại, nổi tiếng nhất là trụ đá ở Xácna (Sarnath). Trên đỉnh trụ đá này có chạm h́nh 4 con sư tử chụm đuôi vào nhau, mặt nh́n ra 4 hướng trong tư thế tự vệ. Dưới sư tử, có h́nh bánh xe luân hồi. H́nh tượng này nay được vẽ thành quốc huy của nước Ấn Độ.
Trong số các chùa đền của các tôn giáo như Bàlamôn, đạo phật, đạo Jain, chùa hay là một loại công tŕnh đặc biệt của Ấn Độ thời cổ trung đại, thường là những công tŕnh nghệ thuật kết hợp kiến trúc với điêu khắc, hội họa. Tiêu biểu cho loại công tŕnh này là những gian chùa hang ở Ajanta được kiến tạo từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ VIII sau CN. Phương pháp kiến tạo chùa này là khoét sâu vào vách núi đá, có nhiều cột chống và được trang trí bằng nhiều bức trạm tinh vi và những tranh bích họa rất đẹp. Dăy chùa hang Ajanta gồm tất cả 29 gian (trong đó có gian h́nh vuông, mỗi chiều 20m) dùng để làm nơi thờ Phật, nơi giảng kinh và nơi ở của các nhà sư.
Ngoài chùa Ajanta, dăy chùa hang Enlôra ở Trung Ấn kiến tạo vào thế kỷ VIII cũng là một công tŕnh tuyệt mỹ.
Dăy chùa này dài khoảng 2km, bao gồm chùa Phật giáo, chùa đạo Hinđu và chùa đạo Jain.
Ở Ấn Độ c̣n có những ngôi chùa lớn xây bằng gạch và đá. Đặc biệt, ở chùa Tanjo có một ngọn tháp xây h́nh Kim tự tháp, gồm 14 tầng, cao 61m, xây dựng từ thế kỷ XI. Đó cũng là một công tŕnh kiến trúc nổi tiếng.
Đến thời Xuntan Đêli và thời Môngôn, cùng với việc đạo Hồi trở thành quốc giáo, ở Ấn Độ đă xuất hiện những công kiến trúc mới xây dựng theo kiểu Trung á và Tây á. Đó là những nhà thờ Hồi giáo, cung điện, lăng mộ mà đặc điểm chung của lối kiến trúc này là mái tṛn cửa ṿm, có tháp nhọn. Có khi các công tŕnh này c̣n kết hợp với phong cách truyền thống của Ấn Độ như xây theo lối có bao lơn lộ thiên, có cột chống thanh thoát...
Công tŕnh tiêu biểu nhất của thời Môgôn là lăng TajMahan được xây dựng vào thế kỷ XVII. Lăng này là kết tinh tài nghệ của các kiến trúc sư và thợ thủ công nhiều nước: Ấn Độ, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ư, v,.v... Toàn bộ ngôi lăng xây bằng đá cẩm thạch trắng. Chính điện, gác chuông, tháp, sân đều bố trí rất hài ḥa, bên trong bên ngoài đều trạm trổ. Nh́n từ xa, tất cả cảnh vật của lăng in lung linh trên mặt nước hồ xanh biếc, trông lại càng kỳ diệu.
Về nghệ thuật tạo h́nh, v́ đạo Phật, trong thời kỳ đầu phản đối việc thờ thần tượng và h́nh ảnh nên nghệ thuật tạc tượng bị hạn chế trong một thời gian dài. Măi đến khi phái Phật giáo Đại thừa ra đời, chủ trương đó mới thay đổi, do vậy, từ thế kỷ I về sau, tượng Phật mới được tạo nên ngày một nhiều, trong đó tiêu biểu nhất là pho tượng bằng đá ở Ganđara.
Ngoài tượng Phật c̣n có các tượng thần đạo Hinđu như tượng thần Visnu, thần Siva v.v... Các tượng thần đạo Hinđu thường được thể hiện dưới h́nh tượng nhiều đầu nhiều mặt nhiều tay và nhiều khi có h́nh thù rất đáng sợ.
Nói chung nghệ thuật tạo h́nh Ấn Độ phần lớn nhằm vào chủ đề tôn giáo, nhưng v́ bắt nguồn từ cuộc sống thực tế nên tính hiện thực vẫn thể hiện rất rơ rệt, ví dụ tượng nhiều tay nhiều đầu là phỏng theo tư thế của các đội múa trong đền chùa và cung đ́nh.
4. Khoa học tự nhiên

Mặc dầu áp lực của tôn giáo rất mạnh nhưng do nhu cầu của cuộc sống hàng ngày, nhân dân Ấn Độ đă có nhiều phát minh quan trọng về một số môn khoa học tự nhiên như thiên văn, toán học, vật lư, y dược học...
· Thiên văn

Từ rất sớm, người Ấn Độ đă biết chia một năm làm 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày, mỗi ngày 30 giờ, cứ năm năm th́ thêm 1 tháng nhuận. Các nhà thiên văn học Ấn Độ cổ đại đă biết được quả đất và mặt trăng đều h́nh cầu, biết được quỹ đạo của mặt trăng và tính được các kỳ trăng tṛn, trăng khuyết. Họ c̣n phân biệt được 5 hành tinh Hỏa, Thủy, Mộc, Kim, Thổ; biết được một số cḥm sao và sự vận hành của các ngôi sao chính.
Tác phẩm thiên văn học cổ nhất của Ấn Độ là quyển Xitđanta (Siddhantas) ra đời vào khoảng thế kỷ V TCN.
· Toán học

Người Ấn Độ có một phát minh tưởng rất b́nh thường nhưng kỳ thực là một phát minh vô cùng quan trọng, đó là việc sáng tạo ra 10 chữ số mà ngày nay được dùng rộng răi trên thế giới.
Vào thế kỷ VIII, người Arập nhờ dịch tác phẩm Sidd hantas mà học tập được chữ số Ấn Độ. Từ Arập, hệ thống chữ số này được truyền sang châu Âu, do đó những chữ số này thường bị gọi lầm là chữ số Arập.
Tư liệu sớm nhất về các chữ số này là các bia đá của Axôca khắc từ thế kỷ III TCN. Tuy nhiên con số 0 được thấy sớm nhất trong một tài liệu Arập năm 873, sau đó 3 năm mới thấy trong tài liệu Ấn Độ. Mặc dầu vậy, người ta vẫn cho rằng, số 0 cũng do người Ấn Độ sáng tạo.
Nhận được về tầm quan trọng của hệ thống chữ số này, cũng như tính chất vĩ đại việc phát minh ra hệ thống chữ số, nhà bác học Pháp Laplaxơ (Laplace, 1749-1827) viết:
"Chính nhờ Ấn Độ mà chúng ta học được phương pháp tài t́nh chỉ dùng có mười chữ mà viết được đủ các số, mỗi chữ vừa có một trị số tuyệt đối, vừa có một trị số tùy theo vị trí của nó. ư đó tế nhị mà quan trọng, ngày nay chúng ta cho là đơn giản quá nên không thấy được công lao của người Ấn Độ. Nhưng chính nhờ nó đơn giản mà làm toán mới hóa ra hết sức dễ dàng và hệ thống số học đáng được kể là sáng kiến ích lợi nhất. Nếu có nghĩ rằng hai vị thiên tài bậc nhất thời cổ đại là Acsimét và Apôlôniốt (Apollonios) mà cũng không phát minh được hệ thống đó th́ mới nhận định nổi sáng kiến của người Ấn Độ tài t́nh đến như thế nào".
Đến thế kỷ VI, người Ấn Độ đă tính được một cách chính xác số  là 3,1416; đồng thời c̣n phát minh ra đại số học và về sau cũng đă truyền sang Arập.
Về h́nh học, người Ấn Độ cổ đại đă biết tính diện tích h́nh vuông, h́nh chữ nhật, h́nh tam giác và h́nh đa giác. Người Ấn Độ cũng đă biết được quan hệ giữa các cạnh của tam giác vuông.
· Vật lư học

Các nhà khoa học kiêm triết học Ấn Độ đă nêu ra thuyết nguyên tử. Người sáng lập trường phái triết học Vaisêsica là Canađa cho rằng vạn vật do các nguyên tử tạo nên, nhưng vật chất sở dĩ khác nhau là do mỗi loại có một thứ nguyên tử khác với loại khác. C̣n các nhà triết học đạo Giainơ (Jain) th́ cho rằng nguyên tử nào cũng như nhau, chỉ có các tổ hợp khác nhau mà thôi.
Người Ấn Độ cổ đại cũng đă biết được sức hút của quả đất. Sách Siddhantas viết vào thế kỷ V TCN đă ghi rằng: " Quả đất, do trọng lực của nó, hút tất cả mọi vật về nó".
· Y dược học

Ấn Độ cổ đại có những thành tựu rất lớn và sớm hơn nhiều so với các nước khác. Trong các tập Vêđa đă kể ra rất nhiều thứ bệnh và ngay từ thời bấy giờ, các thầy thuốc Ấn Độ đă biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh. Từ thế kỷ VI, V TCN, người Ấn Độ đă biết cách chắp xương sọ, cắt màng mắt, mổ bụng lấy thai, lấy sỏi thận v.v...
Những thày thuốc nổi tiếng trong thời cổ đại là Xusruta (Sushruta), Saraca.
Xusruta sống vào thế kỷ V TCN. Ông vừa là thày thuốc vừa là thày giáo dạy ở trường Y khoa Bênarét. Ông viết một quyển sách bằng tiếng Xanxcrít về phương pháp khám bệnh và chữa bệnh, trong đó mô tả rất kỹ về các môn giải phẫu, sản khoa, cách nuôi trẻ... Mặc dầu bị các tu sĩ Bàlamôn phản đối, ông chủ trương phải mổ tử thi để nghiên cứu và thực tập. Chính ông là người đầu tiên đă lột một miếng da trên thân thể để đắp vào vành tai bị cắt đứt.
Saraca sống vào thế kỷ II, là ngự y của vua Canisca thuộc vương triều Cusan. Tác phẩm của ông có nhan đề là Xamhita (Samhita) là một quyển sách y học từ sớm đă được dịch ra tiếng Arập, sau đó c̣n được dịch ra nhiều thứ tiếng khác trên thế giới và đến nay vẫn c̣n giá trị tham khảo. Trong tác phẩm ấy, ông xác định bổn phận của người thầy thuốc là trị bệnh th́ đừng nghĩ đến ḿnh, đừng v́ lợi mà chỉ nên nghĩ đến nhiệm vụ cứu nhân độ thế.
Các tập Vêđa cũng là những tác phẩm dược học cổ nhất, trong đó đă nêu ra hàng trăm loại thuốc thảo mộc. Song song với sự phát triển sớm của thuật giải phẫu, người Ấn Độ đă biết chế thuốc tê cho bệnh nhân uống để giảm đau khi mổ.
Ngoài các ngành nói trê, người Ấn Độ c̣n nhiều hiểu biết về các môn Hóa học, Sinh học, Nông học... do đó đă phục vụ đắc lực cho các lĩnh vực khoa học khác và các nghề thủ công như luyện thép, nhuộm, thuộc da v.v...
5. Tôn giáo

Ấn Độ là nơi sản sinh ra rất nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất là đạo Bàlamôn về sau là đạo Hinđu và đạo Phật. Ngoài ra c̣n có một số tôn giáo khác như đạo Jain, đạo Xích.
· Đạo Bàlamôn - Đạo Hinđu

A. Đạo Bàlamôn
Trong thời kỳ đầu của thời Vêđa, quan niệm tín ngưỡng của người Ấn Độ c̣n mang nhiều dấu vết của thời nguyên thủy. Họ tin rằng vạn vật đều có linh hồn nên họ sùng bái rất nhiều thư, sùng bái các hiện tượng tự nhiên, người chết và nhiều loại động vật....
Đến những thế kỷ đầu của thiên kỷ I TCN, do sự phát triển của xă hội có giai cấp và do sự không b́nh đẳng về đẳng cấp ngày càng sâu sắc, từ các h́nh thức tín ngưỡng dân gian dần dần đă tập hợp thành một tôn giáo lớn gọi là đạo Bàlamôn. Như vậy, đạo Bàlamôn là một tôn giáo không có người sáng lập, không có tổ chức giáo hội chặt chẽ.
Đạo Bàlamôn là một tôn giáo đa thần trong đó cao nhất là thần Brama. Đó là vị thần sáng tạo thế giới. Tuy vậy, có nơi cho thần Siva, vị thần phá hoại là thần cao nhất; có nơi lại cho thần Visnu, thần bảo vệ, thần ánh sáng, thần bốn mùa, thần làm cho nước sông Hằng dâng lên và làm cho mưa tưới cho ruộng đồng tươi tốt là vị thần cao nhất. Do vậy, đến những thế kỷ đầu công nguyên, đạo Bàlamôn chia thành hai phái là phái thờ thần Siva và phái thờ thần Visnu. Để thống nhất các phái đó, đạo Bàlamôn nêu ra quan niệm thần sáng tạo Brama, thần phá hoại Siva và thần bảo vệ Visnu tuy là ba nhưng vốn là một.
Ngoài ra, nhiều loại động vật như voi, khỉ, và nhất là ḅ cũng là những đối tượng sùng bái của đạo Bàlamôn.
Trong giáo lư của đạo Bàlamôn có một nội dung rất quan trọng, đó là thuyết luân hồi. Đạo Bàlamôn giải thích rằng linh hồn của con người là một bộ phận của Brama mà Brama là một tồn tại vĩnh hằng, cho nên con người tuy có sống có chết, nhưng linh hồn th́ c̣n măi măi và sẽ luân hồi th́ c̣n măi măi và sẽ luân hồi trong nhiều kiếp sinh vật khác nhau. Những người giữ đúng luật lệ của tôn giáo và các quy tắc mà thần đă định sẵn cho ḿnh th́ kiếp sau sẽ được đầu thai thành người cao quư, trái lại th́ sẽ càng khổ cực, thậm chí sẽ bị đầu thai làm chó lợn và những động vật bẩn thỉu.
Về mặt xă hội, đạo Bàlamôn là công cụ đắc lực bảo vệ chế độ đẳng cấp ở Ấn Độ.
Trước khi đạo Bàlamôn ra đời, trong quá tŕnh tan ră của chế độ công xă nguyên thủy của người Arya, chế độ đẳng cấp đă xuất hiện rồi. Đó là chế độ chia cư dân tự do thành 4 đẳng cấp: Braman, Ksatơrya, Vaisya, Suđra.
Braman (Bàlamôn) là đẳng cấp của những người làm nghề tôn giáo.
Ksatơrya là đẳng cấp của các chiến sĩ.
Vaisya là đẳng cấp của những người b́nh dân làm các nghề như chăn nuôi, làm ruộng, buôn bán, một số nghề thủ công.
Suđra là đẳng cấp của những người cùng khổ, vốn là con cháu của các bộ lạc bại trận, không có tư liệu sản xuất.
Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của chế độ đẳng cấp là do sự phân hóa giai cấp, sự phân công về nghề nghiệp và sự phân biệt về bộ tộc. Nhưng các tăng lữ Bàlamôn th́ dùng uy lực của thần linh để giải thích hiện tượng xă hội ấy. Ví dụ, luật Manu, một bộ luật về tập quán được hoàn thành vào khoảng đầu công nguyên chép:
"V́ sự phồn vinh của cả thế giới, từ mồm, tay, đùi và bàn chân của ḿnh, ngài (thần Brama) đă tạo nên Braman, Ksatơrya, Vaisya và Suđra".
Trong 4 đẳng cấp ấy, đẳng cấp Bàlamôn có địa vị cao nhất. Luật Manu viết: "Do sinh ra từ bộ phận cao quư nhất của thân thể Brama, do sinh ra sớm nhất, do hiểu biết Vêđa, Bàlamôn có quyền là chúa tể của tất cả các tạo vật ấy".
Ngoài Bàlamôn, chỉ có hai đẳng cấp Ksatơrya và Vaisya mới được trở thành tín đồ của đạo Bàlamôn và cả ba đẳng cấp trên được quan niệm là những người sinh hai lần; c̣n Suđra không được dự các buổi lễ tôn giáo và được quan niệm là những người sinh một lần.
Đạo Bàlamôn đă truyền bá rộng răi ở Ấn Độ trong nhiều thế kỷ. Đến khoảng thế kỷ VI TCN, ở Ấn Độ xuất hiện một tôn giáo mới là đạo Phật. Đạo Bàlamôn bị suy thoái trong một thời gian dài.
B. Đạo Hinđu (Ấn Độ giáo)
Sau một thời gian hưng thịnh, đến khoảng thế kỷ VII, đạo Phật bị suy sụp ở Ấn Độ. Nhân t́nh h́nh đó đạo Bàlamôn dần dần được phục hưng, đến khoảng thế kỷ VIII, IX đạo Bàlamôn đă bổ sung thêm nhiều yếu tố mới về đối tượng sùng bái, về kinh điển, về nghi thức tế lễ... Từ đó, đạo Bàlamôn được gọi là đạo Hinđu, trước đây ta hay gọi là Ấn Độ giáo.
Đối tượng sùng bái của đạo chủ yếu của đạo Hinđu vẫn là ba thần Brama, Siva và Visnu.
Thần Brama được thể hiện bằng một h́nh tượng có 4 đầu để chứng tỏ thần có thể nh́n thấu mọi nơi. Bốn tập kinh Vêđa chính là được phát minh ra từ 4 cái miệng của thần Brama.
Thần Siva được thể hiện thành h́nh tượng có mắt thứ ba ở trên trán, luôn luôn cầm một cái đinh ba Siva thường cưỡi ḅ hoặc ngồi trên tấm da hổ, có những con rắn hổ mang quấn quanh cổ. Thàn Siva là thần phá hoại những thứ mà thần Brama sáng tạo ra, nhưng Siva cũng có mặt sáng tạo. Sự sáng tạo ấy được thể hiện qua h́nh tượng linga - yoni mà nhân dân Ấn Độ sùng bái.
Liên quan đến thần Siva có nữ thần Kali (c̣n gọi là nữ thần Pácvati), vợ của thần Siva và thần Ganêxa, con trai của thần.
Nữ thần Kali (Pavacti) được thể hiện thành h́nh tượng một phụ nữ mặt đen, miệng há hoác, lưỡi lè ra. Nữ thần cũng trang sức bằng những con rắn, đeo hoa tai bằng xác đàn ông, chuỗi hạt là những sọ người, mặt và ngực bôi đầy máu. Thần có 4 tay, một tay cầm gươm, một tay cầm một đầu người, c̣n hai tay nữa th́ đưa ra để ban phúc lành. Trước kia có khi phải giết người để tế thần Kali, về sau chỉ cúng bằng dê cái.
Thần Ganêxa tuy có h́nh thù kỳ dị đầu voi ḿnh người nhưng đó là thần trí tuệ và thịnh vượng.
Thần Visnu được quan niệm là đă giáng trần 9 lần. Trong sáu lần đầu, thần xuất hiện dưới dạng các động vật như cá, lợn rừng... Đến lần thứ 7, thần Visnu chính là Rama, nhân vật chính trong sử thi Ramayana. Lần thứ 8, thần Visnu giáng thế thành thần Krisna. Thần Krisna thường bênh vực kẻ nghèo, chữa bệnh cho người mù, người điếc và làm cho người chết sống lại. Lần thứ 9, thần Visnu biến thành Phật Thích ca. Đây là một biểu tượng chứng tỏ đạo Hinđu có tiếp thu một số yếu tố của đạo Phật, đồng thời đây cũng là một thủ đoạn để đạo Hinđu thu hút các tín đồ đạo Phật cải giáo theo đạo Hinđu. Đến kiếp thứ 10 tức là lần giáng sinh cuối cùng, thần Visnu sẽ biến thành thần Kali. Đó là vị thần sẽ hủy diệt thế giới cũ tội lỗi, tạo dựng thế giới mới với đạo đức trong sáng.
Ngoài các vị thần nói trên, các loài động vật như khỉ, ḅ, rắn, hổ, cá sấu, chim công, vẹt, chuột v.v... cũng là các thần đạo Hinđu, trong đó được tôn sùng hơn cả là thần khỉ và thần ḅ.
Thần khỉ Hanuman sở dĩ được tôn thờ v́ có công giúp Rama (tức là Visnu) giết được quỷ Ravan để đưa Sita trở về quê hương. V́ vậy thần Hanuman được coi là thần Sức Mạnh và thần Trung thành. Để cúng thần Hanuman người theo đạo Hinđu ăn chay vào ngày thứ ba hàng tuần. H́nh thức ăn chay là ban ngày chỉ uống nước, tối mới được ăn.
Thần ḅ Kamđênu được thần Krisna (kiếp thứ 8 của Visnu) chăn dắt, suốt đời đi theo Krisna. Thần Kamđênu được quan niệm là do thần Brama tạo ra đồng thời với đẳng cấp Bàlamôn và được coi là mẹ của hầu hết các thần. V́ vậy, cho đến nay, ḅ được coi là một con vật thiêng liêng. Tín đồ đạo Hinđu không những kiêng ăn thịt ḅ mà c̣n không dùng những đồ dùng làm bằng da ḅ.
Đạo Hinđu cũng chia thành hai phái là phái thờ thần Visnu và phái thờ thần Siva.
Mỗi buổi sáng, tín đồ phái Visnu dùng son vẽ lên trán, c̣n tín đồ phái Siva th́ bôi lên lông mày một vạch ngang bằng than phân ḅ cái hoặc đeo ở tay, ở cổ cái linga. Tuy nhiên hai phái đó vẫn đoàn kết với nhau và có khi cùng cúng tế trong một ngôi đền.
Đạo Hinđu cũng chú trọng thuyết luân hồi, cho rằng con người sau khi chết, linh hồn sẽ đầu thai nhiều lần. Mỗi lần đầu thai như vậy con người sẽ sung sướng hơn hay khổ cực hơn kiếp trước là tuỳ thuộc vào những việc làm của kiếp trước tức là quả báo (Karma).
Kinh thánh của đạo Hinđu, ngoài các tập Vêđa và Upanisát c̣n có Mahabharata, Bhagavad Gita, Ramayana và Purana.
Mahabharata, Bhagavad Gita và Ramayana là những tập trường ca, c̣n Purana là tập truyện cổ nói về sự sáng tạo, sự biến chuyển và sự hủy diệt của thế giới.
Sau khi phục hưng, đạo Hinđu được các vương công Ấn Độ hết sức ủng hộ, do đó đă xây dựng nhiều ngôi chùa nguy nga và ban cấp cho rất nhiều ruộng đất, có khi lên đến hàng ngh́n làng.
Trong các chùa ấy đă tạc rất nhiều tượng thần để thờ. Các tượng thần đạo Hinđu thường có h́nh thù kỳ dị đáng sợ như nhiều đầu, nhiều mắt, nhiều tay.... Trong các chùa lớn có tới hàng ngh́n tu sĩ Bàlamôn và hàng ngh́n vũ nữ.
Khi tế lễ, các tu sĩ thường xoa dầu, xức nước hoa cho tượng, dùng thịt dê cùng các thức ăn uống khác để cúng thần. Trong khi cử hành lễ cúng, các thầy tu đọc kinh, c̣n các vũ nữ th́ múa những điệu múa tôn giáo.
Về tục lệ, đạo Hinđu cũng hết sức coi trọng sự phân chia đẳng cấp. Đến thời kỳ này, do sự phát triển của các ngành nghề, trên cơ sở 4 đẳng cấp cũ (varna) đă xuất hiện rất nhiều đẳng cấp nhỏ mới gọi là jati.
Những đẳng cấp nhỏ này cũng có sự phân biệt về địa vị xă hội rất khắt khe, đóng kín về mọi mặt và đời đời cha truyền con nối. Đặc biệt đạo Hinđu hết sức khinh bỉ và ghê tởm tầng lớp lao động nghèo khổ phải làm các nghề bị coi là hèn hạ như quét rác, đồ tể, đao phủ, đốt than, đánh cá v.v... Những người làm các nghề đó bị coi là những người ô uế, không thể tiếp xúc được. Nếu những người sạch sẽ nhỡ đụng chạm vào họ th́ phải tẩy uế. Nếu nhiễm uế nhẹ th́ chỉ cần vẩy nước thánh là được; nếu nặng th́ phải rửa bằng nước tiểu ḅ, thậm chí phải uống một thứ nước gồm 5 chất của ḅ cái: sữa lỏng, sữa đặc, bơ, nước tiểu và phân.
Đạo Hinđu c̣n duy tŕ lâu dài nhiều tục lệ lạc hậu như tảo hôn, vợ góa phải hỏa táng theo chồng. Nếu không tuẫn tiết th́ phải cạo trọc đầu và ở vậy suốt đời, không được tái giá. Ngày nay các tục lệ đó đều đă băi bỏ.
Trong suốt chiều dài lịch sử, từ thời kỳ đạo Phật thịnh hành, đạo Bàlamôn - đạo Hinđu là tôn giáo chủ yếu ở Ấn Độ. Tôn giáo này c̣n truyền bá sang một số nước Đông Nam á, đặc biệt là Campuchia từ thời ăngco về trước.
Ngày nay, ở Ấn Độ có khoảng 84% tổng số cư dân theo đạo Hinđu. Ngoài Ấn Độ, đa số dân Nêpan và đảo Bali ở Inđô Inđônêxia, gần 20% dân Bănglađét và Xri Lanca vẫn theo đạo Hinđu.
ở nước ta, một bộ phận đồng bào Chăm cũng là tín đồ của đạo này, nhưng đó là một thứ đạo Bàlamôn - Hinđu đă sửa đổi nhiều.
· Đạo Phật

Vào giữa thiên kỷ I TCN, ở Ấn Độ đă xuất hiện một số ḍng tư tưởng chống đạo Bàlamôn. Đạo Phật là một trong những ḍng tư tưởng ấy.
Theo truyền thuyết, người sáng lập đạo Phật là Xitđácta Gôtama (Siddharta Gautama), sau khi thành Phật được đệ tử tôn xưng là Xakia Muni (Thích ca Mâuni), con vua Sutđôđana nước Capilavaxtu ở chân núi Hymalaya, miền đất bao gồm một phần miền Nam nước Nêpan và một phần của Ấn Độ ngày nay.
Năm 29 tuổi, hoàng tử Xitđácta xuất gia đi tu để t́m kiếm con đường cứu vớt những nỗi khổ của loài người. Đến năm 35 tuổi, Xitđácta đă nghĩ ra được cách giải thích bản chất của tồn tại, nguồn gốc của mọi khổ đau, do đó cho rằng đă t́m được con đường cứu vớt. Từ đó, ông được gọi là Buddha, ta quen gọi là Phật hoặc Bụt, nghĩa là "người đă giác ngộ", "người đă hiểu được chân lư".
Về niên đại của Phật, hiện nay đang có những ư kiến khác nhau. Có một số người cho rằng Phật sinh năm 563 và mất năm 483 TCN; một số người khác th́ cho rằng Phật sinh năm 624 và mất năm 544 TCN. Tín đồ Phật giáo lấy năm 544 TCN làm năm mở đầu kỷ nguyên Phật giáo.
A. Học thuyết Phật giáo
Nội dung chủ yếu của học thuyết Phật giáo được tóm tắt trong câu nói sau đây của Phật Thích ca: "Trước đây và ngày nay ta chỉ lư giải và nêu ra cái chân lư về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ". "Cũng như nước đại dương chỉ có một vị là mặn, học thuyết của ta chỉ có một vị là cứu vớt".
Cái chân lư về nỗi đau khổ và sự giải thoát khỏi nỗi đau khổ ấy được thể hiện trong thuyết "tứ thánh đế" hoặc c̣n gọi là "tứ diệu đế", "tứ chân đế", "tứ đế", nghĩa là 4 chân lư thánh. Đó là: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
Khổ đế là chân lư về các nỗi khổ. Theo Phật, con người có tám nỗi khổ (bát khổ): sinh, lăo, bệnh, tử, gần kẻ ḿnh không ưa, xa người ḿnh yêu, cầu mà không được, giữ lấy 5 uẩn (thủ ngũ uẩn).
"Uẩn (Skandha) là tập hợp, tích tụ. Đạo Phật cho rằng con người không có thực thể tự nó (vô ngă) mà chỉ là sự tập hợp 5 thứ: sắc (vật chất tạo thành thân thể), thụ (cảm giác), tưởng (quan niệm), hành (hành động), thức (nhận thức). V́ con người chỉ là sự tập hợp của 5 thứ đó, nên đó cũng là một nỗi khổ.
Như vậy, đối với con người, ngoài khổ đau vô tận, không có cái ǵ khác.
Tập đế là chân lư về nguyên nhân của các nỗi khổ. Nguyên nhân chủ yếu là luân hồi, mà nguyên nhân của luân hồi là nghiệp, sở dĩ có nghiệp là do ḷng ham muốn như ham sống, ham lạc thú, ham giàu sang... Ham muốn không dứt th́ nghiệp không dứt, nghiệp không dứt th́ luân hồi măi măi.
Diệt đế là chân lư về sự chấm dứt các nỗi khổ, Nguyên nhân của khổ đau là luân hồi, v́ vậy muốn diệt khổ th́ phải chấm dứt luân hồi. Muốn chấm dứt luân hồi th́ phải chấm dứt nghiệp. Đó là một món nợ truyền từ kiếp này sang kiếp khác do ḷng ham muốn tạo nên, do đó nói vắn tắt muốn chấm dứt luân hồi th́ phải trừ bỏ hết mọi ham muốn.
Một khi đă chấm dứt được luân hồi th́ sẽ được yên tĩnh thanh thản, sáng suốt và như vậy đă đạt tới cảnh giới Niết bàn (Nirvana).
Đạo đế là chân lư về con đường diệt khổ tức là phương pháp thực hiện việc diệt khổ. Con đường đó gọi là "bát chính đạo" (8 con đường đúng đắn), gồm:
Chính kiến: tín ngưỡng đúng đắn
Chính tư duy: suy nghĩ đúng đắn.
Chính ngữ: nói năng đúng đắn.
Chính nghiệp: hành động đúng đắn.
Chính mệnh: sống đúng đắn.
Chính tịnh tiến: mơ tưởng những cái đúng đắn.
Chính niệm: tưởng nhớ những cái đúng đắn.
Chính định: tập trung tư tưởng ngẫm nghĩ đúng đắn.
Chung qui "bát chính đạo" là suy nghĩ, nói năng và hành động đúng đắn.
Về giới luật, tín đồ Phật giáo chủ yếu phải kiêng 5 thứ (ngũ giới):
Không sát sinh.
Không trộm cắp.
Không tà dâm.
Không nói dối.
Không uống rượu.
Trong số đó, giới luật "không sát sinh" là không được giết người, c̣n giết các động vật th́ luật cấm không khắt khe lắm. Phật giáo ban đầu không cấm tín đồ ăn thịt.
Tục tín đồ, nhất là các tăng ni phải ăn chay, không được ăn thịt động vật là do vua Lương Vũ đế ( 502-549) của Trung Quốc đặt ra vào thời kỳ đạo Phật thịnh hành ở nước này.k
Về mặt thế giới quan, nội dung cơ bản của học thuyết Phật giáo là thuyết duyên khởi. Duyên khởi là chữ nói tắt câu "chư pháp do nhân duyên nhi khởi" nghĩa là "các pháp đều do nhân duyên mà có".
"Pháp" (dharma) là tất cả mọi sự vật, bao gồm cả vật chất và tinh thần. Giáo lư của đạo Phật cũng là sự vật nên cũng gọi là "pháp"
C̣n nhân duyên là nguyên nhân, nhưng trong đó, nhân là nguyên nhân chủ yếu, duyên là nguyên nhân phụ. Ví dụ: Sở dĩ một cái cây có thể nảy mầm và phát triển được là nhờ có hạt giống, đất, nước, khí trời, ánh sáng, trong đó, hạt giống là nhân, đất nước, khí trời ánh sáng là duyên.
Như vậy mọi vật đều do nhân duyên ḥa hợp mà thành. Nhưng duyên khởi do đâu mà có? Học thuyết Phật giáo giải thích rằng duyên khởi do tâm mà ra. Tâm là nguồn gốc của duyên khởi th́ cũng là nguồn gốc của vạn vật.
Do quan niệm duyên khởi sinh ra vạn vật nên đạo Phật chủ trương "vô tạo giả" tức là không có vị thần linh tối cao tạo ra vũ trụ. Đây là một nội dung cơ bản mà đạo Phật nêu ra để chống lại đạo Bàlamôn và cũng là một sự khác biệt quan trọng giữa đạo Phật với nhiều tôn giáo khác.
Bên cạnh thuyết "vô tạo giả", đạo Phật c̣n nêu ra các thuyết "vô ngă", "vô thường".
Vô ngă là không có những thực thể vật chất tồn tại một cách cố định. Con người cũng chỉ là sự tập hợp của 5 uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức chứ không phải là một thực thể tồn tại lâu dài. Đây là nội dung thứ hai mà đạo Phật nêu ra để chống lại đạo Bàlamôn, v́ đạo Bàlamôn chủ trương có bản ngă.
Vô thường là mọi sự vật đều ở trong quá tŕnh sinh ra, biến đổi, tiêu diệt chứ không bao giờ được ổn định.
Như vậy về thế giới quan, tuy đạo Phật ban đầu chủ trương vô thần (vô tạo giả) nhưng chung qui vẫn là duy tâm chủ quan.
Về mặt xă hội, đạo Phật không quan tâm đến chế độ đẳng cấp, v́ đạo Phật cho rằng nguồn gốc xuất thân của mỗi người không phải là điều kiện để được cứu vớt. Mọi người, dù thuộc đẳng cấp nào một khi đă tu hành theo học thuyết của Phật th́ đều trở thành những thành viên b́nh đẳng của một Tăng đoàn.
Đồng thời đạo Phật mong muốn có một xă hội trong đó vua th́ có đạo đức và phải dựa vào pháp luật để trị nước, không được chuyên quyền độc đoán, c̣n nhân dân th́ được an cư lạc nghiệp.
Như vậy, đạo Phật ban đầu là một học thuyết khuyên người ta phải từ bỏ ham muốn, tránh điều ác, làm điều thiện để được cứu vớt chứ không thừa nhận thượng đế và các vị thần bảo hộ, do đó không cần nghi thức cúng bái và cũng không có tầng lớp thày cúng.

B. Sự phát triển của đạo Phật ở Ấn Độ
Sau khi Phật tịch, đạo Phật được truyền bá nhanh chóng ở miền Bắc Ấn Độ. Để soạn thảo giáo lư, qui chế và trấn chỉnh về tổ chức, từ thế kỷ V-III TCN, đạo Phật đă triệu tập 3 cuộc đại hội ở nước Magađa, quốc gia lớn nhất ở Ấn Độ lúc bấy giờ. Từ nửa sau thế kỷ III TCN, tức là sau đại hội lần thứ ba, đạo Phật trước tiên được truyền sang Xri Lanca, sau đó truyền đến các nước khác như Myanma, Thái Lan, Inđônêxia...
Đến khoảng năm 100 sau CN, đạo Phật triệu tập đại hội lần thứ tư tại nước Cusan ở Tây Bắc Ấn Độ. Đại hội này thông qua giáo lư của đạo Phật cải cách, và phái Phật giáo mới này được gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phái Phật giáo cũ gọi là phái Tiểu thừa.
Sự khác nhau chủ yếu giữa hai phái biểu hiện ở các mặt sau đây:
-Phái Tiểu thừa (Hinayana) nghĩa là "cỗ xe nhỏ" hoặc "con đường cứu vớt hẹp" cho rằng chỉ có những người xuất gia đi tu mới được cứu vớt.
Phái Đại thừa (Mahayana) nghĩa là cỗ xe lớn hoặc "con đường cứu vớt rộng" th́ cho rằng không phải chỉ những người tu hành mà cả những người trần tục quy y theo Phật cũng được cứu vớt.
- Phái Tiểu thừa cho rằng chỉ có Phật Thích ca là Phật duy nhất. Việc cứu độ chúng sinh chỉ có Phật mới làm được, những người thường không thể thành Phật.
Phái Đại Thừa cho rằng Phật Thích Ca là Phật cao nhất, nhưng ngoài Phật Thích Ca c̣n có nhiều Phật khác như Phật A Di Đà, Phật Di Lặc, Phật Đại Dược Sư. Phật A Di Đà hiện đang giáo hóa ở cơi cực lạc phương Tây. Phật Di Lặc là vị Phật tương lai sẽ nối nghiệp Phật Thích Ca để giáo hóa cơi đời này mà sách Phật gọi là cơi Ta bà (Saha) nghĩa là nơi khó chịu đựng. Phật Dược Sư ở cơi tĩnh lưu li ở phía Đông thế giới chúng ta. Phật Dược Sư thường cứu giúp chúng sinh tai qua nạn khỏi.
Hơn nữa phái Đại thừa cho rằng ai cũng có thể thành Phật và thực tế đă có nhiều người đă đạt đến cơi Phật. Đó là các Bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quan Âm, Địa Tạng... Tuy đă thành Phật, nhưng các Bồ Tát không nên cơi Niết Bàn mà tự nguyện ở lại cơi trần để cứu độ chúng sinh.
- Phái Tiểu thừa quan niệm Niết bàn là cảnh giới yên tĩnh gắn liền với giác ngộ sáng suốt, không c̣n phiền năo khổ đau. Phật Thích Ca đă đạt đến cảnh giới Niết bàn vào năm 35 tuổi, sau đó Phật vẫn tiếp tục sống và hoạt động 45 năm nữa.
Phái Đại Thừa th́ quan niệm Niết bàn là thế giới của các Phật giống như thiên đường của các tôn giáo khác. Đồng thời với quan niệm đó, phái Đại Thừa c̣n tạo ra địa ngục, nơi đày đoạ những kẻ tội lỗi.
Phái Đại thừa c̣n đề cao vai tṛ của tầng lớp tăng ni, coi họ là những kẻ trung gian giữa tín đồ và Bồ tát.
Từ đó tượng Phật được tạc, đúc rất nhiều, nghi thức cúng bái càng phức tạp, hương hoa cũng được sử dụng trong khi cúng Phật.
Sau đại hội Phật giáo lần thứ tư, các nhà sư càng được khuyến khích ra nước ngoài truyền đạo; do đó đạo Phật càng được truyền bá mạnh mẽ sang Trung á và Trung Quốc. Những thế kỷ tiếp sau đó, đạo Phật suy dần ở Ấn Độ, nhưng lại được phát triển ở phần lớn châu á và đă trở thành quốc giáo của một số nước như Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào.
· Đạo Jain (Jainisme, Kỳna)

Theo truyền thuyết, người sáng lập đạo Jain (Giainơ) là một người xuất thân từ đẳng cấp Ksatơrya ở ngoại ô thành Vaixali thuộc tỉnh Biha ngày nay. Sau khi đắc đạo, ông được các tín đồ gọi là Mihariva nghĩa là "Đại anh hùng". Về niên đại có thuyết nói ông sinh năm 599 và chết năm 527 TCN, có thuyết nói ông sinh năm 549 và chết năm 477 TCN.
Năm Mihariva 30 tuổi, cha mẹ ông v́ ḷng tin tôn giáo đă nhịn ăn tự tử. Buồn rầu v́ việc đó, ông từ bỏ gia đ́nh và từ bỏ mọi tiện nghi kể cả quần áo, đi lang thang tu hành khổ hạnh ở miền Tây Bengan. Sau 13 năm, ông được các tín đồ của ḿnh tôn là "Jina" nghĩa là khắc phục ham muốn và gọi tôn giáo do ông sáng lập là đạo Jain.
Đạo Jain chủ trương không thờ thượng đế v́ họ cho rằng vũ trụ không phải do một đấng hóa công nào sáng tạo ra, nhưng lại thờ tất cả các thần thánh trong huyền thoại. Đồng thời họ cũng cho rằng vạn vật đều có linh hồn và cũng tán thành thuyết luân hồi. Chỉ có những linh hồn hoàn hảo nhất mới chấm dứt được ṿng luân hồi, được giải thoát vĩnh viễn và được tồn tại một cách sung sướng ở Niết bàn.
Giới luật của đạo Jain cũng gồm có 5 điều chủ yếu:
- Không được giết bất cứ một sinh vật nào.
- Không nói dối.
- Không lấy bất cứ vật ǵ của kẻ khác nếu không phải là tặng phẩm.
- Không dâm dục.
- Không được tích luỹ của cải quá nhiều. Phải sống khổ hạnh, từ chối mọi thú vui của xă hội.
Tín đồ đạo Jain thường thực hiện giới luật đó một cách rất máy móc. Ví dụ để giữ đúng luật không sát sinh, họ kiêng cày ruộng để khỏi làm chết các sinh vật trong đất; kiêng ăn mật để khỏi làm hại đến đời sống của ong; kiêng lọc nước để khỏi làm chết các sinh vật nhỏ trong nước; mỗi lần bước chân đi đều phải quét sạch mặt đất phía trước để khỏi dẫm chết các sinh vật nhỏ ở trên đường v.v... Trái lại, đối với bản thân ḿnh tín đồ đạo Jain phải thản nhiên trước cái chết tức là phải thắng được ḷng ham sống, rồi đến một tuổi nào đó, họ chủ trương tuyệt thực tự tử.
Do quan niệm của đạo Jain về thế giới và nhân sinh như vậy nên đạo Jain chống lại uy quyền của kinh Vêđa, cho rằng lời trong kinh Vêđa không phải là lời dạy của Thượng đế v́ đơn giản là không có Thượng đế. Đạo Jain cũng chống đạo Bàlamôn và những h́nh thức cúng bái phiền phức của nó, đồng thời cũng chống chế độ đẳng cấp.
Đến khoảng thế kỷ I sau CN, đạo Jain chia thành hai phái: phái Svetambara là phái áo trắng và phái Đigambara là phái áo trời tức là khỏa thân. Về sau tín đồ phái Đigambara cũng mặc quần áo b́nh thường, chỉ có các đạo sĩ của họ th́ hoàn toàn không mặc quần áo kể cả khi ra ngoài đường.
Đền thờ của đạo Jain mang tính chất quần thể, thường gồm nhiều ngôi đền giống nhau. Trong đền có rất nhiều cột, có đền có đến trên 1000 cột. Đặc biệt những cột ấy đều làm bằng đá cẩm thạch trắng và được chạm khắc rất đẹp và mỗi cột có một vẻ khác nhau.
Do đạo Jain là một tôn giáo khắt khe và có phần kỳ quặc nên truyền bá không được rộng răi. Tuy vậy đạo Jain vẫn tồn tại ở Ấn Độ trong suốt chiều dài lịch sử và ngày nay số tín đồ chiếm khoảng 0,7% dân số Ấn Độ, tập trung chủ yếu ở miền Tây và Tây nam đất nước này.
· Đạo Xích (Sikh)

Từ thế kỷ VIII, đạo Phật hoàn toàn suy, đạo Hinđu trở thành tôn giáo chủ yếu ở Ấn Độ. Cũng vào thời kỳ này, đạo Hồi bắt đầu được truyền vào Ấn Độ và từ thế kỷ VIII về sau th́ trở thành tôn giáo có thế lực ở quốc gia này.
Dựa trên giáo lư của đạo Hinđu và đạo Hồi, đến cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, ở Ấn Độ xuất hiện một giáo phái mới gọi là đạo xích. Chữ "Sikh" vốn bắt đầu từ chữ Sishya nghĩa là "đệ tử".
Người sáng lập đạo Xích là Nanac Đép (Nanak Dev, 1469 - 1538).
Đạo Xích chỉ tin vào một vị thần tối cao duy nhất, chống việc thờ các tượng thần. Họ phản đối sự cuồng tín của đạo Hinđu và đạo Hồi, không hành hương đến các con sông như đạo Hinđu.
Kinh thánh của đạo Xích là Gran Sahep bao gồm tác phẩm của 10 giáo sĩ đạo Xích cùng với kinh của đạo Hinđu và kinh của đạo Hồi. Ngôi đền thờ lớn nhất của đạo Xích là đền vàng ở bang Punjap.
Về mặt xă hội, đạo Xích chống chế độ đẳng cấp, thực hiện sự khoan dung và yêu mến mọi người, coi trọng sự mến kháchkk, sẵn sàng giúp đỡ những người đến nương náu trong đền thờ của họ.
Đến thế kỷ XVII, giáo sĩ Gôbin Xinh bổ sung cho đạo Xích yếu tố vũ trang để đối phó với nạn khủng bố người theo đạo Xích. Từ đó tên của nam tín đồ đạo Xích đều có thêm chữ Xinh. Đồng thời giáo sĩ Gôbin Xinh qui định 5 đặc điểm của tín đồ đạo Xích là:
- Không cắt tóc, không cạo râu.
- Luôn mang theo lược chải đầu bằng gỗ hoặc ngà.
- Mặc quần ngắn .
- Đeo ṿng tay bằng sắt.
- Mang kiếm ngắn hoặc dao găm.
Ngày nay số tín đồ đạo Xích chiếm khoảng 2% dân số Ấn Độ. Họ đ̣i tách bang Punjap khỏi Ấn Độ để thành lập một nước độc lập gọi là Khalixtan.